Oops! It appears that you have disabled your Javascript. In order for you to see this page as it is meant to appear, we ask that you please re-enable your Javascript!

Ánh Sáng Vô Hình-Tuôn trào những thực tại chiến tranh!

Tôi thường ít đọc những quyển sách có đề tài chiến tranh, vì đối với tôi chúng quá gai góc và tàn bạo, có một lần gần đây nhất tôi có đọc đến Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh-một quyển sách về đề tài chiến tranh rất ấn tượng. Lần này, chạm đến Ánh Sáng Vô Hình là do chị Rosie giới thiệu ở trang cá nhân, tôi khá ấn tượng nên mua về nghiên cứu.

Ánh Sáng Vô Hình mở đầu bằng hình ảnh của cô gái mù Marie – Laure và hai anh em Werner và Jutta, kể từ đó quyển sách liên tục cho đan xen giữa thực tại và quá khứ, khi chiến tranh cuốn đi nhà cửa, tình yêu thương, biến con người trở nên tàn bạo và rèn luyện những chàng trai trẻ trở nên cứng cáp như những tượng đài, như những con robot nghe lệnh, chiến tranh – một đề tài không mới nhưng tôi chưa báo giờ thấy xúc động như thế khi đọc về một quyển sách mô tả chi tiết những khung cảnh thân thuộc: những cành cây tầm ma, cây phi yến, những con ốc biển cảu Marie-Laure, cái điện đàn cũ của câu Werner lắng nghe tiếng nói vọng lại bên tai:

Hãy nghĩ về một mẫu than đỏ rực trong bếp lò gia đình mình. Các em quan sát nó chưa? Khúc than ấy từng là một cái cây xanh, một cây dương xỉ hay cây sậy cách đây một triệu năm, hay có khi hai triệu năm hoặc một trăm triệu năm. Các em có thể hình dung một trăm triệu năm không? Suốt cuộc đời cái cây đấy, mỗi mùa hè, lá cây hấp thụ toàn bộ ánh sáng chúng nhận được và chuyển hóa năng lượng mặt trời vào bên trong cây. Trong vỏ cây, cành cây, thân cây. Vì cây ăn ánh sáng, gần giống như chúng ta ăn thức ăn. Nhưng rồi cây chết đi và bị đổ, có thể là xuống nước và bị phân hủy thành than bùn, than bùn bị vùi sâu duói lòng đất từ năm này qua năm khác qua nhiều niên đại mà nếu so với nó thì khoảng thời gian một tháng, một thập kỷ hay thậm chí cả cuộc đời bản chỉ giống như một hơi thở, một cái búng tay. Cuối cùng than bùn khô lại và trở nên cứng như đá, ai đó đào nó lên, rồi người bán than mang nó đến nhà bạn, có khi chính bạn đem nó đến bếp lò và giờ đây ánh sáng mặt trời đó – ánh sáng mặt trời một trăm triệu năm tuổi đang sưởi ấm nhà bạn đêm nay.

Đó là thế giới nhỏ bằng những căn nhà gỗ mô hình của cha Marie-Laure, nhờ đó cô có thể tự mò đường đi về nhà Số 4 Đường Vauborel. Đó là nụ cười của cha Marie-Laure.

Đi sau cô một bước, cha ngửa đầu lên trời cười ngoác miệng. Mặc dù cô quay lưng về phía cha, mặc dù cha chằng nói lời nào, mặc dù cô mù, nhưng cô biết cha đang cười – mái tóc dày của cha ướt đẫm vì tuyết và nhiều dòng nước đọng nhỏ giọt từ trên đầu xuống, cha đang tươi cười dưới mưa tuyết – Một đoạn mô tả cha hướng dẫn Marie Laure tự tìm đường về nhà.

Đó là thế giới của những con ốc biển, những lối đi rải sỏi, căn hộ với gác xép bí mật, cửa tiệm bánh mì với mẩu giấy bé xíu bên trong. Cô bé mù Marie Laure mảnh khảnh xinh xắn, khuôn mặt đầy tàn nhang,…thế giới ấy chứa đựng những con người nhỏ bé, yếu đuối nhưng lại can đảm không ngờ.

Chị Rosie viết một đoạn bình phẩm rất hay mà tôi trích lại tại đây:

Ánh Sáng Vô Hình tác động rất lớn đến nhân sinh quan của độc giả. Vì nó tạo ra những tình huống thử thách bản chất và nhân tính trong mỗi con người, khiến người ta không thể không tự hỏi mình sẽ làm gì khi rơi vào hoàn cảnh đó. Nó giúp người ta thông cảm hơn với sự hèn nhát và yếu đuối trong cách ứng xử của người thường, bởi vì  họ biết, trong hoàn cảnh đó, họ cùng sẽ hành động như vậy.

Nó làm giàu lên lòng vị tha và trắc ẩn bên trong mỗi độc giả. Nhưng nó cũng dựng lên những nhân vật anh hùng bé nhỏ, những người không hề nổi bật, mà trong nghịch cảnh đã thể hiện bản chất trong sáng kiên cường không gì có thể bẻ gẫy được. Những tượng đài can đảm luôn để lại dấu ấn long lanh trong lòng người đọc. Để rồi khi đối diện với những hình huống thách thức giá trị sống của mình trong hiện thực, người ta biết rằng họ có quyền lựa chọn, biết rằng mình cần ứng xử một cách đúng đắn cho xứng là người.

Khi tôi đọc đến đoạn cuối của tác phẩm. Năm 1974, khi tất cả nhân vật ngày ấy đều lớn lên, đều đã trải qua những cung đường đời đầy màu sắc của chiến tranh, tôi nhìn thấy gã khổng lồ Volkheimer bước đi dưới ánh đèn chói lóa, gay gắt của tấm bảng quảng cáo và cảm thấy sự cô đơn trông ông giống như một căn bệnh. Để thấy được những giọt ký ức nóng chảy tràn qua tay của Marie-Laure khi nhận lại căn nhà gỗ nhỏ Số 4 Đường Vauborel từ người em Jutta của Werner. Để thấy rằng tuyệt vọng cũng đẹp như một bông hoa.

Tôi rùng mình ở những trường đoạn miêu tả lại chuỗi ngày từ 8/8 cho đến 12/8 năm 1944, khi cuộc vây hãm cuối cùng ở Saint Malo diễn ra, khi quân Đức đang thất thủ và ngày kết thúc chiến tranh đang đến gần. Có bom nổ, có đạn rơi, có người chết và những kẻ sống sót. Trong những ngày ấy, Marie-Laure đã phải một mình chống chọi với tình trạng thiếu thức ăn và nước uống, cố thủ trong căn nhà số 4 đường Vauborel của ông chú cô, nơi mà tên thiếu tá người Đức Reinhold von Rumpel cuối cùng cũng đã mò tới để lấy cho bằng được viên đá Lửa Biển. Tôi rùng mình trước cái cảnh Werner phải nhìn thấy đồng đội mình trút hơi thở cuối cùng ở tầng hầm khách sạn nơi đội quân của cậu đồn trú – cái khách sạn đã bị sập và không còn chút ánh sáng nào vì bom rơi. Tôi rùng mình cho chàng thanh niên 18 tuổi với mái tóc bạch kim trắng toát tựa tóc người già, suốt 5 ngày liền phải chịu cảnh thiếu ô-xy, lương thực và nước uống. Ai bảo chiến tranh chỉ tác động đến những người ở phe thiện, những người là nạn nhân trực tiếp của cuộc chiến tranh vô nghĩa này?

Và tôi còn rùng mình, nhưng là cái rùng mình đầy xúc động vì tình người tôi cảm nhận được giữa thời chiến tranh. Đó là tình cảm cha con thân thiết và đầy quan tâm giữa Marie-Laure và ông Daniel LeBlanc, là tình cảm anh em giữa ông chú Étienne và ông nội cô thông qua những câu chuyện mang giá trị truyền thống gia đình mà ông chú cô kể lại. Đó là tình cảm và sự tận tâm mà cô Elena người Pháp dành cho những đứa trẻ mồ côi người Đức ở khu mỏ than; là tình cảm và sự tận tâm tương tự mà ông chú Étienne, vượt qua sự sợ hãi của bản thân, đã dành cho cô cháu gái và cũng là người thân duy nhất của ông còn sống, Marie-Laure.

Trên tất cả, tôi rùng mình vì một tình yêu vừa chớm nở trong trái tim của Werner dành cho cô gái mù người Pháp – thứ tình cảm đã thôi thúc cậu phản bội lại chính đồng đội cùng lãnh tụ của mình để bảo vệ cho hoạt động kháng chiến ở Saint Malo và nhất là tính mạng của Marie-Laure được an toàn.

Ngòi bút tinh tế, giàu cảm xúc, đậm chất Mỹ của Anthony Doerr đã kết nối thành công suy nghĩ chân thực của hai nhân vật trẻ tuổi trong cuộc chiến tranh tàn khốc với độc giả. Ánh sáng vô hình cho thấy khả năng cảm nhận nhạy bén về những chi tiết vật lý và những phép ẩn dụ bóng bẩy của Anthony Doerr thật kinh ngạc. 10 năm cầm bút, tác phẩm này là một kiệt tác nghệ thuật, một cuốn tiểu thuyết vô cùng cảm động.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

error: Content is protected !!