Oops! It appears that you have disabled your Javascript. In order for you to see this page as it is meant to appear, we ask that you please re-enable your Javascript!

(Bảo mật) Nguỵ biện ép buộc sử dụng danh tính thật

Bài gốc (source): https://blog.coralproject.net/the-real-name-fallacy/

Đa số người cho rằng những hành vi của con người trên mạng internet sẽ được cải thiện theo hướng tích cực nếu phần bình luận của các website ép buộc người bình luận dùng họ tên thật (thay vì nickname, hoặc mạo danh ai đó). Điều này nghe có vẻ rất hợp lý — chắc chắn không ai muốn bình luận điều gì đó khiến họ phải khó xử khi phải đối mặt với hậu quả trực tiếp đến chính bản thân họ khi dùng danh tính thật.

Tuy nhiên, thực tiễn qua 30 năm nay đã chứng minh rằng không phải như vậy. Không chỉ nói riêng về thất bại của việc cố gắng loại bỏ sự ẩn danh (che giấu tên thật) để cải thiện hành vi trong các cộng đồng trực tuyến — việc ép buộc dùng tên thật có thể làm tăng sự kì thị và trầm trọng hoá các rắc rối.

Chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận đối với vấn đề này. Những mối quan tâm về sự ẩn danh hiện nay quá đơn giản; thiết kế hệ thống không giải quyết những vấn đề xã hội khi mà nó không cải tổ chính nó để thay đổi xã hội thực tế.

Điều gì khiến cho chúng ta đã nghĩ rằng ẩn danh là một vấn đề?

Quan điểm cho rằng giấu tên là vấn đề thực sự với nền tảng internet nằm trong cách hiểu sai một lý thuyết từ hơn ba mươi năm về trước.

Vào thời kì đầu 1980, nhiều giám đốc điều hành đã lưỡng lự trong việc quyết định có nên cho nhân viên của họ sử dụng máy tính và email hay không. Các nhà quản lý đã lo lắng rằng điều đó sẽ cho phép các nhân viên đối thoại vượt ra ngoài phạm vi công ty. Dễ thành lập các tổ chức lao động, nguy cơ xung đột và kém hiệu quả hơn hình thức truyền thống (tập trung và nội bộ).

Khi các công ty tranh luận về email, một nhóm các nhà tâm lý học xã hội dẫn đầu là Sara Kiesler đã công bố nghiên cứu và suy đoán về các tác động của “giao tiếp qua trung gian là máy tính” trong các nhóm làm việc. Những bài viết của họ đã tạo cảm hứng cho các cuộc tranh luận có giá trị trên nhiều thập kỉ, sớm đưa ra một mệnh đề phổ biến rằng ẩn danh có thể là nguồn gốc của các vấn đề ở xã hội trực tuyến.

Trong một thí nghiệm, những nhà nghiên cứu đã hỏi các sinh viên ngành khoa học máy tính — những người hoàn toàn lạ lẫm, để đưa ra các quyết định chung của các thành viên trong nhóm về chủ đề tư vấn nghề nghiệp. Họ tổ chức thảo luận xung quanh một chiếc bàn, trò chuyện thông qua nội dung chat ẩn danh hoặc qua nội dung chat không ẩn danh (có hiển thị tên người dùng). Họ cũng so sánh các nội dung nói chuyện theo thời gian thực (real-time) để đánh giá. Phát hiện cho thấy, các quyết định trực tuyến thì công bằng hơn (so với cách truyền thống là văn bản hoặc lời nói), và nó cũng mất nhiều thời gian hơn để quyết định. Các sinh viên đã dùng nhiều lời chửi thề và lăng mạ trong lúc đối thoại nhiều hơn mức được cho là bình thường. Nhưng các nhà nghiên cứu không tìm thấy sự khác nhau giữa các nhóm ẩn danh và các nhóm không ẩn danh.

Viết về những câu hỏi chưa được trả lời cho các nghiên cứu trong tương lai, Kiesler suy đoán trong năm 1984 — kể từ khi máy tính có ít thông tin về bối cảnh xã hội, truyền thông trực tuyến có thể làm tăng xung đột xã hội và tranh chấp với những tổ chức sử dụng lao động. Suy đoán của Kiesler đã được nhắc lại hàng ngàn lần, làm cơ sở cho nhiều nghiên cứu thường được thực hiện như các phát hiện khoa học. Về sau, cô nhận ra rằng các phát hiện sau này cũng bị giải thích sai vì cơ sở ban đầu chưa thực sự đúng. Theo thời gian, những sắc thái trong quan điểm của Kiesler về chuẩn mực xã hội đã biến mất và hai quan niệm sai lầm đã trở thành phổ biến:

a) Các vấn đề của xã hội có thể được gán cho các thiết kế của các hệ thống máy tính.

b) Ẩn danh là nguyên nhân của tội lỗi.

Những nhận định này không được phản ánh trong các nghiên cứu. Trong năm 2016, một cái nhìn tổng quan từ 16 thí nghiệm bởi Guanxiong Huang và Kang Li (thuộc đại học Michigan Stage) đã cho thấy: Con người thực sự nhạy cảm hơn với các chuẩn mực nhóm khi họ ít thể hiện mình với những người khác.

Một số nghiên cứu phi nhân quả đã tìm thấy mối liên hệ giữa ẩn danh và hành vi không bị ngăn cấm, mối tương quan này có thể là kết quả từ chọn lựa công nghê bởi người đang có ý định tranh chấp hoặc gây tổn hại (lên người chủ động ẩn danh). Trong điều kiện nghiên cứu, người ta cư xử hơi khác nhau trong cuộc trò chuyện dưới nhiều hình thức thể hiện cái tôi trong xã hội, các nhà tâm lý học gọi đó là hiệu ứng “phi cá nhân hóa” (“deindividuation”)

Về “phi cá nhân hóa”: Khái niệm này được đưa ra lần đầu tiên năm 1950 bởi nhà tâm lý xã hội Leon Festinger. Trong các thí nghiệm của mình, Festinger đã chỉ ra rằng con người có xu hướng đánh mất bản thân khi trở thành một phần của đám đông; đồng thời, luôn muốn phi cá nhân hóa người khác khi họ gia nhập nhóm. Hiệu ứng này làm giảm sự kiềm chế và sự cảm thông của một cá nhân đối với những người khác khi ở trong đám đông.

Mặc dù, bằng chứng thực nghiệm và quan niệm sai lầm về ẩn danh trên môi trường trực tuyến là vấn đề còn tranh cãi, nhưng kể từ năm 1980s, ẩn danh đã trở thành một biểu tượng để đổ lỗi cho bất kì điều gì người ta lo lắng về xã hội công nghệ.

9 dữ kiện về ẩn danh và vấn đề của xã hội trực tuyến

Ngoài những nghiên cứu, điều gì nói cho chúng ta biết về tiết lộ thông tin và hành vi trực tuyến.

Khoảng một nửa nạn nhân trưởng thành (Mỹ) bị quấy rối trực tuyến đều biết kẻ tấn công họ là ai, theo một nghiên cứu toàn quốc của Maeve Duggan Pew năm 2014 [6]. Nghiên cứu bao gồm các loại hành vi từ chửi rủa đến các mối đe dọa, bạo hành gia đình. Tức là, ngay cả khi các hành vi quấy rối được xử lý và “nỗ lực” ép buộc sử dụng tên thật được áp dụng trước đó thì vẫn có hơn một nửa nạn nhân trưởng thành, khoảng 16 triệu người, vẫn chịu những đe doạ như trên.

Xung đột, quấy rối và phân biệt đối xử là những vấn đề xã hội và văn hóa, không chỉ là vấn đề của cộng đồng trực tuyến. Trong xã hội (bao gồm cả nước Mỹ), nơi có bạo lực và ngược đãi phụ nữ, người da màu và các nhóm dân bị thiệt thòi là chủ yếu, chúng ta có thể mắc phải vấn đề tương tự trong đời sống số hoá của người dân [1]. Môi trường nghiên cứu và thí nghiệm liên tục thể hiện vai trò chuẩn mực xã hội trong việc định hình hành vi cá nhân; nếu quấy rối và xung đột được ủng hộ, mọi người sẽ có nhiều khả năng làm theo. Trong khi hầu hết các nghiên cứu và thiết kế tập trung vào việc thay đổi hành vi của các cá nhân, chúng ta có thể đạt được kết quả tốt hơn bằng cách tập trung vào thay đổi không khí của xung đột và thành kiến [1716].

Tiết lộ thông tin cá nhân sẽ khiến nhiều người lâm vào cảnh bị quấy rối và phân biệt đối xử ở mức cao hơn bình thường. Không có nhiều kết luận chứng minh rằng việc hiển thị tên thật và danh tính sẽ làm giảm đáng kể các vấn đề của xã hội, nhiều nghiên cứu đã ghi lại các vấn đề do chính nó tạo ra. Khi tên thật và danh tính được cung cấp trên một nền tảng số hoá, những người cung cấp dịch vụ dựa trên danh tính của người dùng có thể sẽ từ chối bán hàng cho người da màu, hoặc bắt buộc họ phải trả nhiều hơn [958]. Tiết lộ tình trạng hôn nhân trên DonorsChoose (tổ chức hỗ trợ giáo dục phi lợi nhuận) có thể khiến các giáo viên nữ không còn nhận được nhiều đóng góp hỗ trợ từ học viên, trong các lĩnh vực mà ở đó phụ nữ là thiểu số [18]. Quấy rối dựa trên chủng tộc và giới tính xảy ra khi người ta biết chủng tộc/giới tính, và tên thật thường gợi ý sâu sắc về điều này. Yêu cầu mọi người tiết lộ thông tin đó sẽ gây ra những rủi ro cho họ.

Năm 1996, cô gái trẻ da đen Keshia Thomas đã xả thân bảo vệ một người đàn ông da trắng khỏi việc bị đám đông giận dữ hành hình vì nghĩ anh ta ủng hộ phong trào phân biệt chủng tộc Ku Klux Klan. Ku Klux Klan (3K hay KKK) là một trong vài tổ chức cực hữu khét tiếng ở Mỹ, ủng hộ thuyết người da trắng là ưu việt. Họ có bề ngoài dễ nhận biết với áo khoác trắng và mũ trùm đầu hình nón.

Các công ty lưu trữ thông tin cá nhân vì mục đích kinh doanh cũng khiến người dùng gặp phải những rủi ro tiềm ẩn nghiêm trọng. Đặc biệt là khi các thông tin đó bị rò rỉ, những báo cáo qua những nghiên cứu sơ sài về việc giấu tên dẫn đến xung đột về chính sách tên thật được gọi là “Nymwars.” (Nymwars là một xung đột trong chính sách mong muốn áp đặt người dùng phải dùng tên thật của họ trên mạng internet nhằm định danh chính xác người dùng là ai, Google+ bắt đầu làm chuyện này từ năm 2011 và bị nhận khá nhiều phản đối). Nymwars cũng là sự biện minh cho các nhà quảng cáo dựa trên hành vi, danh tính của người dùng. Những cuộc tấn công mạng vào những công ty internet lớn đã nói lên sự đe dọa về thông tin cá nhân khi người dùng đặt quá nhiều sự tin tưởng vào những công ty này.

Chúng ta cũng phải nhận thức tốt hơn về kinh doanh sự riêng tư cá nhân và tận dụng các nguồn lực cho sự an toàn của cộng đồng. Vì các nền tảng trực tuyến thu thấp nhiều dữ liệu cá nhân đều có doanh thu quảng cáo cao ngất ngưởng, họ có thể thuê hàng trăm nhân viên để làm công việc bảo vệ sự an toàn trực tuyến. Nghịch lý khác, các nền tảng hướng đến việc bảo vệ định danh của người dùng lại có ít tài nguyên về dữ liệu cá nhân hơn rất nhiều lần. Vì không thể so sánh mức độ quấy rối của người dùng giữa hai loại nền tảng này, nên chúng ta không thể đứa ra một cách tiếp cận tốt nhất để tìm ra điểm cân bằng (bao nhiêu là đủ).

Không có gì là đùa cợt hay quá lố khi nói rằng: Bảo vệ định danh nên là dòng đầu tiên trong danh sách những cách bảo vệ con người khỏi hiểm họa nghiêm trọng khi tham gia vào môi trường trực tuyến. Theo báo cáo của tổ chức Số liệu và Xã hội Hoa Kỳ, 43% nạn nhân bị quấy rối trực tuyến đã phải thay đổi thông tin cá nhân của họ và 23% chọn cách ngắt kết nối với xã hội trực tuyến cũng như thiết bị cá nhân (điện thoại, máy tính,…) để tự bảo vệ bản thân của họ [15]. Dùng “bút danh” (nickname) là một biện pháp bảo vệ thông thường. Theo nghiên cứu của Reddit, những người thuộc nữ giới — nhóm có tỉ lệ bị quấy rối cao hơn nam giới, thì sử dụng các hồ sơ cá nhân đăng ký giả nhiều hơn là nam giới [14].

Yêu cầu “tên thật” cũng dễ gây hiểu nhầm trong các bối cảnh đời sống, nó cũng phơi bày nguy cơ bị tổn thương cho cá nhân. Trong cuốn sách It’s Complicated (Rất phức tạp)danah boyd (tên của nhà nghiên cứu truyền thông xã hội) chia sẻ về những gì cô đã học từ thiếu niên Mỹ trong việc dành thời gian sử dụng nhiều nickname trên Facebook cho các bối cảnh kết nối xã hội khác nhau [24]. Việc yêu cầu mang tính ép buộc chỉ một định danh cá nhân duy nhất có thể làm cho các bối cảnh bị phá vỡ bởi sự xấu hổ hoặc bị phá hủy (vì phụ thuộc vào định danh của nạn nhân). Trong một câu chuyện, boyd trình bày về việc một nhân viên tuyển sinh đại học đã từ chối một ứng viên gia đen sau khi nhìn thấy biểu tượng băng đảng của người này trên trang mạng xã hội. Nhân viên tuyển sinh đã không cân nhắc rằng kí hiệu đó có thể không phải là sự thể hiện chính xác nội tại của bản thân ứng viên; đăng tải hình ảnh đó có thể chỉ là ngẫu nhiên như một tình huống may rủi. Những người khám phá danh tính của cộng đồng LGBTQ thường có nhiều tài khoản khác nhau để ngăn chặn những điều xét đoán mang tính kì thị có thể đến với họ, hoặc đơn giản là để đảm bảo an toàn cho họ vì những nền tảng trực tuyến mà họ tham gia không cho phép điều đó [7].

Làm rõ các chuẩn mực xã hội có thể làm giảm các vấn đề một cách công bằng, không cần phải khai báo danh tính cụ thể. Chuẩn mực xã hội là niềm tin của chúng ta rằng những điều đó cũng được người khác chấp nhận, và các chuẩn mực không được công nhận bởi sự nặc danh. Chúng ta học từ những chuẩn mực này bằng cách quan sát hành vi của người khác và chọn những lời nói phù hợp để nói với họ. Vài năm gần đây, tôi hỗ trợ cho 14 triệu người đăng ký bằng “bút danh” thay vì tên thật để kiểm tra về hiệu của của các quy tắc khi đăng bình luận trong bài viết. Kết quả sơ bộ, chúng tôi nhận thấy rằng khi đính kèm quy tắc đăng bài lên trên đầu một cuộc thảo luận, những người tham gia thảo luận đầu tiên trong chủ đề đã tuân thủ theo nó nhiều hơn ban đầu là 7%, từ 75% lên 82%. Rõ ràng, việc công bố chuẩn mực cộng đồng đã có hiệu quả.

Đôi khi người ta thường tiết lộ danh tính của họ trong các cuộc xung đột nhằm gia tăng ảnh hưởng của họ lên những người khác, sâu xa là đạt được mục đích tranh luận. Những bình luận tin tức, thuật toán tìm kiếm thông tin nổi bật và rất nhiều cuộc trò chuyện vẫn hay trở thành những “chiến trường trên mạng”, đó là sự kết nối để giải quyết những xung đột hiện tại cũng như thảo luận với những người ở địa điểm khác đang cùng trực tuyến. Thay vì chọn người thảo luận và chơi theo cách của bạn (thiết lập các luật lệ cho thảo luận), thì những cuộc thảo luận này lại thu hút những người có danh tính mang sức ảnh hưởng từ địa vị và hành vi đến từ nhiều nơi khác. Chúng giống như những cuộc đấu với quy mô rộng lớn hơn so với những thử nghiệm nhỏ trong phòng thí nghiệm với những người dấu tên (đã nêu ở phần trên của bài viết). Mạng lưới công khai này là rất phổ biến trong các nền dân chủ, nơi mà tranh luận đóng vai trò cơ bản của vận hành chính trị [25,26,27]. Điều này cũng có thể rằng đó là khi con người với những mục tiêu cụ thể cố gắng điều chỉnh hành vi chính trị của một cuộc trò chuyện, họ có thể có được nhiều ảnh hưởng hơn khi tiết lộ thông tin về địa vị xã hội của mình [28,29]. Ví dụ, trong các cuộc thảo luận cấp cao giống như kiến nghị chính phủ, một trường hợp từ Đức đã cho thấy rằng các nhà bình luận hung hăng có nhiều khả năng tiết lộ danh tính của mình hơn là ẩn danh để đưa ra quan điểm, có lẽ họ hi vọng những bình luận của họ sẽ đem lại nhiều ảnh hưởng hơn [30].

Các giáo phái và các nhóm có tư tưởng thù hận vẫn thường bảo vệ danh tính của họ, đặc biệt là trong các nền văn hóa cho rằng bảo vệ tất cả hội nhóm là hợp pháp nhưng vẫn trừng phạt những hội nhóm nàyNhưng nhiều nhóm có tư tưởng thù hận vẫn hoạt động công khai, họ nỗi lực để tìm kiếm sự hợp phápNgay cả khi những cài đặt mang tính ẩn danh, hành vi phạm pháp có thể được điều tra thông qua các bên liên quan, và các công ty có thể bị ép buộc bởi tòa án để chia sẻ thông tin người dùng, trong những đáp ứng thực thi theo luật pháp.

Tuy nhiên là phản ứng tức thời và không thể đáp ứng được những rủi ro leo thang cho đến khi chuyện gì đó xảy ra. Trong các cộng đồng ẩn danh có tổ chức để làm hại người khác thường không tuân theo quy tắc xã hội, họ ủng hộ thành kiến và xung đột. Cho đến khi những người trong cộng đồng này phạm luật, thì chỉ có những người bất đồng chính kiến can đảm và những nhà khai thác nền tảng mới có thể can thiệp vào những nguy cơ tạo ra bởi họ.

4 bài học cho các nhà thiết kếcác cộng đồng

Những người ủng hộ chính sách sử dụng tên thật phải hiểu sâu sắc giá trị và cách ngăn ngừa các vấn đề ngay cả khi những nghiên cứu không tìm ra điểm cân bằng để hỗ trợ niềm tin của họ. Các nhà thiết kế xã hội có thể sẽ trở nên bị động bởi các thành tựu công nghệ trong việc phát triển và giải quyết các vấn đề; chúng ta không nên tiếp tục chơi trò phòng thủ .

Những nhà thiết kế cần nhìn xa hơn những giả định văn hóa. Rất nhiều thí nghiệm về sự “thù địch”, “hiếu chiến” và ẩn danh giữa những người có địa vị, được giáo dục tốt — sống trong nhiều hình thể chế, chính sách, các định mức xã hội khác nhau. Thành kiến và xung đột là những thách thức chung mà mỗi người phải đối mặt hàng ngày, những vấn đề được xã hội củng cố bởi các chuẩn mực của xã hội và cộng đồng. Bất cứ nhà thiết kế không nhận ra điều này rất có thể sẽ đối diện với việc tạo nên nhiều vấn đề hơn là giải quyết những vấn đề sẵn có.

Những nhà thiết kế cần thừa nhận rằng thiết kế xã hội không thể giải quyết sự phát sinh các vấn đề đến từ chính nó. Ngăn chặn các vấn đề và bảo vệ nạn nhân thì khó hơn rất nhiều nếu không có sự hỗ trợ và giúp đỡ của các nền tảng, các nhà thiết kế xã hội và các nhóm nghiên cứu dữ liệu. Vâng, nhiều tính năng thiết kế con người gặp phải những rủi ro lớn, và một số loại có thể hoạt động trật tự khi các định mức xã hội được đảm bảo. Nhưng thay đổi xã hội ở bất kì quy mô nào cũng cần chúng ta phải áp dụng chiều sâu tư tưởng để áp dụng thay đổi, giống như cách mà các chuẩn mực xã hội được sinh ra.

Cuối cùng, những nhà thiết kế cần cam kết và kiểm tra các kết quả đạt được trong việc ngăn ngừa và ứng phó các vấn đề xã hội. Đây là những vấn đề lớn và giải quyết chúng là cực kì quan trọng. Lịch sử của xã hội công nghệ là những ý tưởng tốt rải rác, chúng thất bại trước khi chúng ta nhận ra chúng tồn tại (như một sự quan trọng).

Ý tưởng của việc loại bỏ các cộng đồng ẩn danh dựa trên nền tảng tốt, nhưng các nghiên cứu đã công bố từ thực địa và phòng thí nghiệm cho thấy nó không hiệu quả. Bằng việc đánh giá một cách có hệ thống thiết kế của bạn và các can thiệp xã hội, bạn cũng có thể thêm vào kiến thức công cộng về những gì hoạt động, và tăng khả năng chúng ta có thể học hỏi từ những sai lầm của chính mình và xây dựng hệ thống tốt hơn.

— — —

NB Nhà xã hội học Harry T Dyer đã viết một suy nghĩ chu đáo cho vấn đề nàyđể thảo luận làm thế nào sự giấu tên có thể góp phần tạo ra một môi trường chín muồi cho sự lạm dụng. Rất đáng để đọc.

Thêm nữa:

Đọc thêm về các nghiên cứu trong vấn đề bình luận và cộng đồng online.

Bạn đồng ý? Không đồng ý? Bạn cố gắng sử dụng tên thật/giả mạo/nặc danh trên trang của bạn? Bấm vào đây để thảo luận về bài viết này trong trang chính của cộng đồng.

J.Nathan Matias là một tiến sĩ nghiên cứu tại MIT Media Lab Center of Civic Media và là một thành viên của Berkman-Klein Center tại Harvard. Ông tiến hành nghiên cứu độc lập, nghiên cứu về lợi ích công cộng đối với sự thịnh vượng, công bằng và sự kết nối an toàn.

Tài liệu tham khảo/Chỉ mục

Vượt ra ngoài ranh giới của câu chuyện ẩn danh, nếu bạn có hứng thú để biết thêm về các vấn đề khác đang tồn tại trong xã hội trực tuyến, thử đọc Tài liệu hướng dẫn sách nhiễu trực tuyến cho nghiên cứu khoa học, danh sách tài nguyên có FemTechNet Center for Solutions to Online Violence, và một báo cáo mà tôi đánh giá cao là thắc mắc và cơ hội để nghiên cứu hành động quấy rối trực tuyến. Cũng có thể xem qua bài viết trong vai trò nghiên cứu chuyên ngành của tôi về theo dõi, tìm hiểu, và hình thành công lý trong xã hội trực tuyến.

1
Sarah Banet-Weiser and Kate M. Miltner. #MasculinitySoFragile: culture, structure, and networked misogyny. Feminist Media Studies, 16(1):171–174, January 2016.

2
Robert B. Cialdini, Carl A. Kallgren, and Raymond R. Reno. A focus theory of normative conduct: A theoretical refinement and reevaluation of the role of norms in human behavior. Advances in experimental social psychology, 24(20):1–243, 1991.

3
Danielle Keats Citron and Helen L. Norton Intermediaries and hate speech: Fostering digital citizenship for our information age Boston University Law Review, 91:1435, 2011.

4
Jessie Daniels. Cyber racism: White supremacy online and the new attack on civil rights. Rowman & Littlefield Publishers, 2009.

5
Jennifer L. Doleac and Luke CD Stein. The visible hand: Race and online market outcomes. The Economic Journal, 123(572):F469-F492, 2013.

6
Maeve Duggan. Online Harassment, Pew Research, October 2014.

7
Stefanie Duguay. “He has a way gayer Facebook than I do” : investigating sexual identity disclosure and context collapse on a social networking site.New Media and Society, September 2014.

8
Benjamin G. Edelman, Michael Luca, and Dan Svirsky. Racial Discrimination in the Sharing Economy: Evidence from a Field Experiment. SSRN Scholarly Paper ID 2701902, Social Science Research
Network, Rochester, NY, January 2016.

9
Yanbo Ge, Christopher R. Knittel, Don MacKenzie, and Stephen Zoepf. Racial and gender discrimination in transportation network companies. Technical report, National Bureau of Economic Research, 2016.

10
Arlie Russell Hochschild. The Managed Heart: Commercialization of Human Feeling. University of California Press, Berkeley, third edition, updated with a new preface edition edition, 1983.

11
Guanxiong Huang and Kang Li. The Effect of Anonymity on Conformity to Group Norms in
Online Contexts: A Meta-Analysis.
 International Journal of Communication, 10(0):18, January 2016.

12
Adam N. Joinson. Disinhibition and the Internet. Psychology and the Internet: Intrapersonal, interpersonal, and transpersonal implications, pages 75–92, 2007.

13
Sara Kiesler, Jane Siegel, and Timothy W. McGuire. Social psychological aspects of computer-mediated communication. American Psychologist, 39(10):1123–1134, 1984.

14
Alex Leavitt. This is a Throwaway Account: Temporary Technical Identities and Perceptions of Anonymity in a Massive Online Community. In Proceedings of the 18th ACM Conference on Computer
Supported Cooperative Work & Social Computing
, pages 317–327. ACM, 2015.

15
Amanda Lenhart, Michelle Ybarra, Kathryn Zickuhr, and Myeshia Prive-Feeney. Online Harassment, Digital Abuse, and Cyberstalking in America.Report, Data & Society Institute, November 2016.

16
Elizabeth Levy Paluck. The dominance of the individual in intergroup relations research: Understanding social change requires psychological theories of collective and structural phenomena. Behavioral and Brain Sciences, 35(06):443–444, 2012.

17
Elizabeth Levy Paluck and Donald P. Green. Prejudice reduction: What works? A review and assessment of research and practice. Annual review of psychology, 60:339–367, 2009.

18
Jason Radford. Architectures of Virtual Decision-Making: The Emergence of Gender Discrimination on a Crowdfunding Website. arXiv preprint arXiv:1406.7550, 2014.

19
Jane Siegel, Vitaly Dubrovsky, Sara Kiesler, and Timothy W. McGuire. Group processes in computer-mediated communication. Organizational behavior and human decision processes, 37(2):157–187, 1983.

20
Lee Sproull and Sara Kiesler. Reducing Social Context Cues: Electronic Mail in Organizational Communication. Management Science, 32(11):1492–1512, November 1986.

21
Tiziana Terranova. Free labor: Producing culture for the digital economy.Social text, 18(2):33–58, 2000.

22
Kathi Weeks. Life within and against work: Affective labor, feminist critique, and post-Fordist politics. Ephemera, 7(1):233–249, 2007.

23
JoAnne Yates. Control through communication: The rise of system in
American management
, volume 6. JHU Press, 1993.

24
danah boyd. It’s complicated: The social lives of networked teens. Yale University Press, 2014.

25
Nancy Fraser. Rethinking the public sphere: A contribution to the critique of actually existing democracy. Social text, (25/26):56–80, 1990.

26
Catherine R. Squires. Rethinking the black public sphere: An alternative vocabulary for multiple public spheres. Communication theory, 12(4):446–468, 2002.

27
Michael Warner. Publics and counterpublics. Public culture, 14(1):49–90, 2002.

28
Christian von Sikorski. The Effects of Reader Comments on the Perception of Personalized Scandals: Exploring the Roles of Comment Valence and Commenters’ Social Status. International Journal of Communication, 10:22, 2016.

29
Robert D. Benford and David A. Snow. Framing processes and social movements: An overview and assessment. Annual review of sociology, pages 611–639, 2000.

30
Katja Rost, Lea Stahel, and Bruno S. Frey. Digital social norm enforcement: Online firestorms in social media. PLoS one, 11(6):e0155923, 2016.

Read More

Viên kim cương ở góc nhà

Có một thời gian thị trường sách Việt Nam bị khuấy động bởi cuốn sách Nhà Giả Kim, các bạn trẻ tung hô và thần thánh hóa cuốn sách đó và tôi nghĩ tới bây giờ vẫn vậy vì có rất nhiều người đọc sách nghe theo lời khuyên, mà lời khuyên tốt nhất là nhìn vào bảng Top Seller trên các trang bán sách như Tiki.

Tôi đã đọc Nhà Giả Kim và vẫn không hiểu tại sao mọi người lại tung hô nó hết mực như vậy, đồng ý là có quá nhiều thứ mà tôi cần phải học từ nó, nhưng đừng thần thánh hóa một thứ gì đó quá mức. Tôi không bàn về cuốn sách đó ở đây, tôi xin kể các bạn một câu chuyện khác qua một cuốn sách mà tôi từng đọc online : Acres of diamonds.

Chuyện kể về một người Ba Tư cổ đại tên là Ali Hafed. Ali Hafed có một trang trại rất là lớn, ông ấy trồng đủ loại cây trái, ruộng lúa và rất nhiều khu vườn. Ngày nọ, có một thầy tu đến nhà chơi và kể chuyện cho ông nghe về kim cương và sự hình thành của nó. Thầy tu này nói với Ali Hafed rằng: “Nếu anh có một viên kim cương bằng đầu ngón tay cái thôi là đủ sức mua cả vùng này. Nếu có một mỏ kim cương thì con cháu anh tha hồ mà sống trong sung túc mãi về sau”.

Ali Hafed đã trằn trọc suốt đêm. Ông không mất gì cả sau câu chuyện ấy nhưng mà ông thấy mình trở nên nghèo đi vì sự bất mãn, ông bất mãn bởi vì ông sợ là mình nghèo. Ông muốn mỏ kim cương ấy vô cùng. Ngay sau đó ông lập tức bán trang trại của mình và lên đường tìm kiếm kim cương. Ông tìm kiếm liên tục từ Pa-les-tin đến Châu Âu, và khi ông dùng hết đồng tiền cuối cùng của mình, từ một ông chủ nông trại giàu có ông trở nên khốn khổ và nghèo nàn. Quá uất ức không thể chịu được số phận như vậy, ông gieo mình xuống biển tự vẫn.

Người chủ sau của trang trại trong một lần đưa lạc đà vào vườn cho uống nước thì vô tình nhìn thấy một ánh sáng le lói dưới cát, ông lượm lên một hòn đá phản chiếu màu sắc cầu vồng, đó chính là viên kim cương mà Ali Hafed đã tìm kiếm. Nó không ở đâu xa mà ngay chính trong vườn của ông.

Ước mơ? Theo đuổi ước mơ? Vũ trụ chung tay ủng hộ? Không ngần ngại thực hiện ước mơ??? Những cuốn sách cổ tích thì chỉ làm được đến thế, còn phiên bản thực thì sẽ giống như câu chuyện mà tôi kể bên trên. Có một cái mà người trẻ hay mắc phải, họ có quá nhiều năng lượng và vì có quá nhiều năng lượng nên có rất nhiều phút bốc đồng về cuộc sống. Đối với họ cái gì cũng phải là đam mê, thực hiện ước mơ của bản thân… Nghe giống như là ảo tưởng sức mạnh. Đôi khi ước mơ đó quá xa vời và bạn cần phải từ bỏ nó để thay đổi lại phương pháp và quan điểm. Có ai ước mơ biết bay không?

Năng lượng vũ trụ ở đâu khi Nikkei và kinh tế Thái Lan sụp đổ

Tôi kể một câu chuyện cổ tích và không kém phần hư cấu này cho các bạn nghe.

Tôi như một chàng trai chăn cừu trong cuốn sách Nhà Giả Kim, tôi nghe báo đài nói thị trường chứng khoán Nhật tăng mạnh, Nhật Bản sẽ trở thành nước có nền kinh tế số 1 thế giới, nghe như có ai đó báo mộng cho tôi rằng nếu tôi đầu tư vào thị trường chứng khoán Nhật Bản tôi sẽ trở nên giàu có. Tôi lặng thinh và tìm hiểu thật kỹ lưỡng, trong quá trình phiêu lưu tôi gặt hái được rất nhiều thứ. Nhưng không, khi tới sa mạc thì Nikkei nổ bong bóng!!!

Đứng trước tên tướng cướp bong bóng Nikkei, tôi chỉ biết giơ tay lên trời kêu gọi sức mạnh vũ trụ ủng hộ tôi, ủng hộ cho giấc mơ làm giàu của tôi. Nhưng vũ trụ im bặt. Lặng thinh. Nikkei kéo từ 39000 về dưới 10000. Tại sao vũ trụ không giúp tôi? Bởi vì đây là cuộc sống thật, không phải chuyện cổ tích.

Câu chuyện tiếp tục, tôi lại là chàng trai chăn cừu đi phiêu lưu ở Thái Lan, và khi đồng Bath Thái mất giá tôi lại bị vũ trụ quất một cú thẳng mặt.

Tôi là một thằng đầu tư vào Crypto, thị trường lao dốc, tôi dập mặt!

Đồng ý là sự chuyển hướng của thị trường không phụ thuộc vào ước mơ của tôi vậy!

Tôi thấy mình giống như Ali Hafed. Đi tìm mỏ kim cương ở khắp nơi trên thế giới và cái kết đắng nhận được đó là gieo mình xuống biển tự vẫn.

Tôi chỉ kể chuyện vậy thôi, vì bản chất của đầu tư là một môn nghệ thuật đặt niềm tin. Không nên đổ lỗi cho bất cứ ai ngoài bản thân mình.

Liệu có chăng viên kim cương mà tôi tìm kiếm nó ở ngay Việt Nam này?

Nếu tôi là một nhà đầu cơ chứng khoán vào năm 2006, 2007 và bán trước khi thị trường sụp đổ, thì câu trả lời là: Có!

Nếu tôi là một nhà đầu cơ bất động sản trong năm 2016, 2017 và đã bán đi thì câu trả lời là: Có!

Vậy viên kim cương mà tôi tìm kiếm chắc chắn ở Việt Nam rồi? Không hẳn vậy. Tôi sẽ tìm thấy viên kim cương của mình nếu tôi làm đúng những điều trên, nhưng tương lai là một thứ không ai có thể tiên đoán được. Nếu tôi thành công thì tôi khẳng định viên kim cương có ở đây, còn nếu tôi thất bại thì tôi sẽ khẳng định rằng mảnh đất này không có kim cương.

Tất cả là do sự cố gắng của bản thân kèm rất nhiều may mắn. May mắn là thứ cần phải có nhưng không phải ai cũng đạt được, có rất nhiều người tài giỏi nhưng lại sai thời điểm nên trắng tay chính vì thế may mắn (hay còn gọi là đúng thời điểm) là một yếu tố cực kỳ quan trọng.

Tôi nói rằng viên kim cương có ở bất cứ mọi nơi dù là trong nước Việt Nam hay là ở nước Mỹ. Nhưng ở Mỹ thì khả năng sẽ kiếm được nhiều kim cương hơn Việt Nam vì Mỹ là một cường quốc lớn nhất trên thế giới, cơ hội phát triển và thành công ở Mỹ cao hơn các nước khác, đó là lý do tại sao nhiều người muốn được nhập quốc tịch Mỹ để có một cuộc sống tốt hơn. Và thị trường chứng khoán Mỹ hay các Crypto được phát hành tại Mỹ cũng là một nơi đáng để đầu tư lâu dài.

Có một thời gian nhà đầu tư đi tìm kiếm kim cương tại Nhật Bản vì họ có niềm tin rằng Nhật Bản sẽ là cường quốc thứ hai trên thế giới sau Mỹ, và đã bị bong bóng vùi dập. Trong thời gian họ đi tìm kim cương ở Nhật Bản và thất bại thì chứng khoán Mỹ tại quê nhà đã tăng trưởng ngay trong thời gian đó, nếu các nhà đầu tư đào kim cương ngay tại chính sân nhà của mình thì đã có thể gặt hái được nhiều lợi nhuận.

 

Hiện tại 2018, Trung Quốc chiếm 18% dân số thế giới và 9% GPD, nền kinh tế của họ đang tăng trưởng trung bình 10,6% trong suốt 5 năm qua. Có khả năng Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc đứng đầu thế giới khoảng năm 2025-2030. Chính vì thế, bắt đầu từ năm 2000 đã có nhiều nhà đầu tư Mỹ đi tìm kiếm kim cương ở chính Trung Quốc này. Bạn có thể tìm đọc 2 cuốn Chấm dứt thời đại hàng nhái và Chấm dứt thời đại Trung Quốc giá rẻ của tác giả Shaun Rein để biết thêm về sự thay đổi của Trung Quốc, các nỗ lực của các nhà đầu tư nước ngoài đi tìm kiếm viên kim cương của mình. (Gợi ý: họ đã tìm được một mỏ kim cương.)

Các nhà đầu tư nước ngoài, các quỹ đầu tư lớn thường đi đến các nước đang phát triển để đầu tư, như một quỹ đầu tư X (?) đầu tư vào bất động sản Việt Nam trong nhiều năm liền và tất nhiên họ đã gặt hái được nhiều thành công. Sau khi đã thành công ở một đất nước, họ sẽ rút đi và tới các nước khác. Sau Châu Á thì họ sẽ đến Châu Phi chăng? (Bill Gates đã tới trước.)

Tóm lại

Viên kim cương có ở tất cả mọi nơi nhưng chúng ta cần phải nỗ lực mới có thể đào được kim cương. Dù rằng tôi ngồi ở Việt Nam nhưng vẫn có thể đầu tư vào thị trường chứng khoán Mỹ hay Crypto, thế giới giờ đã phẳng, cái lợi của thời đại internet là vậy. Và may mắn là một yếu tố cực kỳ quan trọng, nếu thiếu may mắn thì cho dù tài giỏi tới đâu cũng không thể thành công được. Vì may mắn không thể là mục tiêu để đạt được nên hãy đầu tư vào bản thân nhiều nhất có thể.

 Bạn có tin rằng nếu đầu tư vào bản thân càng nhiều thì tỷ lệ nhận được may mắn càng cao không? 

 

P/S: Cuối truyện Nhà Giả Kim, Tại sao tên tướng cướp không đi tìm kho báu đó? Vì hắn đã tìm được kho báu chính nơi hắn ở: một đám cướp và có nhiều tài sản. Đó là viên kim cương mà hắn nhận được sau bao nỗ lực cướp bóc trên khắp sa mạc. Hay tôi có thể nói ví von là: một doanh nghiệp thu được nhiều lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh trên sa mạc, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho mọi người. Đó là viên kim cương của đời hắn. Hắn đã thành công ngay trên chính quê nhà của mình.

Xin cho một tràng pháo tay cho tên tướng cướp, người đã cố gắng và đã đào được viên kim cương của đời mình. Nhân vật chính của truyện.

http://baoquocte.vn/kinh-te-nhat-ban-sut-giam-sau-tam-quy-tang-truong-lien-tiep-72486.html
Read More
error: Content is protected !!